Chủ đề

(An ninh quốc phòng) - Sáng ngày 14/3/1988 Trung Quốc đưa tàu chiến và vũ khí hạng nặng đến tấn công tàu vận tải và lính công binh Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng trên các đảo đá Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao trên quần đảo Trường Sa. Và chính Trung Quốc đã tự hào công bố những hình ảnh họ xã súng thẳng vào lính công binh Việt Nam tay không vũ khí. Họ thảm sát, máu lính công binh Việt Nam nhuộm đỏ một vùng biển… Và cho đến hiện giờ Trung Quốc vẫn chưa chịu trả di cốt các chiến sĩ hy sinh ở Gạc Ma cho Việt Nam…

giankhoan-biendong-1

Trung Quốc thông qua xâm chiếm các đảo trái phép, kéo giàn khoan ngang ngược hạ đặt trái phép,… Trung Quốc đang âm thầm độc chiếm Biển Đông.

Nếu Trung Quốc có thề không chế biển Đông, họ có thể không chế hoạt động thương mại của bất kỳ nước nào khi giao thương qua vùng biển Đông. Họ có thể bắt Nhật Bản nhanh chóng khuất phục nếu họ muốn. Họ có thể đe dọa các tàu chiến của Mỹ, đẩy Mỹ ra khỏi khu vực. Và sau đó không còn nước nào đủ mạnh phản kháng lại họ.

Kế hoạch độc chiếm biển Đông được thể hiện rõ khi ngày 26/5/2015, một lần nữa Trung Quốc kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu khí đến vị trí nằm trong vùng chồng lấn ở vịnh Bắc Bộ mà hai nước đang đàm phán phân chia ranh giới được xem là một hành vi đơn phương vi phạm luật quốc tế và thỏa thuận với Việt Nam.

Video lịch sử tội ác và mưu đồ chiếm Biển Đông của Trung Quốc:

Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Trích Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trung Quốc luôn khẳng định có chủ quyền lịch sử ở Hoàng Sa và Trường Sa, tuy nhiên bằng chứng mà nước này đưa ra nhiều nhất không phải là tài liệu lịch sử pháp lý nào mà chỉ đưa ra một bức thư của cố Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958.

“Nếu Trung Quốc tin tưởng vào những cơ sở lịch sử và pháp lý về những đòi hỏi của mình tại các vùng biển có tranh chấp, tại sao họ lại lưỡng lự đưa vấn đề ra trước Tòa án Công lý Quốc tế?”

Tiến sĩ Koh Tsu Koon – Cựu Bộ trưởng Malaysia, Hiệu phó danh dự trường Đại học Mở Wawasan Malaysia.

Theo quan điểm của Trung Quốc (tài liệu Bộ Ngoại giao), công hàm của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Phạm Văn Đồng đương nhiên “công nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo trên biển Đông vì trước đó trong số báo ngày 6 tháng 9 báo Nhân Dân “đã đăng chi tiết về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc trong đó đường cơ sở để tính lãnh hải bao gồm bờ biển hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa trên biển Đông”. Các tài liệu công bố công khai cho công chúng Trung Quốc bản dịch tiếng Trung đều không dịch đầy đủ nội dung của văn kiện này, thiếu một số nội dung trong đó có đoạn “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

1958_diplomatic_note_from_phamvandong_to_zhouenlai

Năm 1958, Công hàm của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai.

Vào năm 1958, trên thực tế một phần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và về pháp lý Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa, nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có quyền đơn phương đưa tuyên bố các vùng đất không do mình trực tiếp nắm giữ.

Theo Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 07/8/1979 thì: Sự diễn giải của Trung quốc về bản công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc. Tức là khoảng 22 km, mà không cho biết đường cơ sở để tính chủ quyền 12 hải lý có bao gồm đường bờ biển hai quần đảo đó hay không. Văn bản này không đề cập đến hai quần đảo (chỉ là cơ sở Trung Quốc tính hải phận và không thuộc hải phận).

Khi Công thư 1958 gửi Trung Quốc, lúc bấy giờ, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève năm 1954 và Trung Quốc là một bên tham gia. Theo logic thông thường, bạn không thể cho người khác những gì khi bạn chưa có được. Do đó, Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị trong việc công nhận chủ quyền đối với cái gọi là Tây Sa hay Nam Sa theo cách gọi của Trung Quốc.

Phó trưởng ban Biên giới quốc gia Trần Duy Hải.

Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu

Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu

Những ngày tháng 5, Biển Đông đột ngột nhộn nhịp khác thường với những chuyến qua lại, phát biểu của lãnh đạo các nước trong và ngoài khu vực, bình luận của các chuyên gia và lo...
Trường Sa 1988: Lính Trung Quốc thú nhận được lệnh “giết sạch” bộ đội Việt Nam

Trường Sa 1988: Lính Trung Quốc thú nhận được lệnh “giết sạch” bộ đội Việt Nam

Nói về Hải chiến Trường Sa 1988, các tướng lĩnh TQ đã cố đổi trắng thay đen. Tuy nhiên, lời kể của họ đã làm lộ ra một sự thật: Họ có dã tâm và quyết thực hiện...
Thuyền trưởng tàu ngầm Việt Nam đầu tiên: Nhắc đến Gạc Ma là nhắc đến sự dã man của Trung Quốc

Thuyền trưởng tàu ngầm Việt Nam đầu tiên: Nhắc đến Gạc Ma là nhắc đến sự dã man của Trung Quốc

Đại tá Phạm Tân, thuyền trưởng tàu ngầm Việt Nam đầu tiên nói về sự kiện Gạc Ma năm 1988 khi quân Trung Quốc nhẫn tâm xả súng sát hại hàng chục người lính công...
CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

Những ngày vừa qua, trên báo chí nổi lên cuộc tranh luận về Công thư năm 1958 của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng cũng như về một vài tư liệu khác (bản đồ, sách giáo khoa…) mà ngày 9.6.2014 Trung Quốc...

Quang Dũng

Thích và chia sẻ bài này trên:
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]