Chủ đề

(Bạn đọc) - 60 năm tuổi đời, hàng trăm tác phẩm điện ảnh kinh điển đoạt giải thưởng, hàng chục nghìn m2 đất “vàng” ở Thủ đô nhưng Hãng phim truyện Việt Nam chỉ được định giá… 0 đồng. Điều này, khiến những người yêu môn nghệ thuật thứ 7 cảm thấy chua xót và đặt ra một dấu hỏi: Giá trị thương hiệu đâu chỉ xét trên những con số?

Trên thế giới, thương hiệu được coi là tài sản vô cùng quan trọng của các công ty. Có những doanh nghiệp, giá trị thương hiệu chiếm đến 70% giá trị doanh nghiệp. Thế nhưng ở nước ta, không ít DN đã để mất tài sản trí tuệ của mình chỉ vì theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04, giá trị thương hiệu hay nhãn hiệu hàng hóa được coi là tài sản cố định vô hình.

Sau 60 năm cống hiến, cuối cùng giá trị vẫn là số 0

Việc cổ phần hóa VFS là điều tất yếu tuy nhiên điều khiến dư luận cũng như chính những người làm điện ảnh bức xúc đó là việc thương hiệu VFS bị tính giá trị bằng 0 với sự đồng ý của Ban cổ phần Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Các cơ quan chủ trì việc cổ phần hóa lý giải nguyên nhân VFS được định giá thương hiệu bằng 0 do hãng không có những chi phí để xác lập nên giá trị thương hiệu như chi phí đào tạo, chi phí quảng cáo, lập trang web… Điều đáng nói, VFS đang có trong tay mảnh đất vàng hơn 5.500m2 “view” Hồ Tây tại số 4 Thụy Khuê, Hà Nội. Chưa kể 905 m2 ở Hoàng Hoa Thám làm khu chứa đạo cụ, đoàn xe và quản lý khu đất rộng 6.382 m2 tại Đông Anh (Hà Nội) là trường quay phim. Ở TP. Hồ Chí Minh, VFS còn sở hữu 600m2 ở đường Thái Văn Lung, ngay sau Nhà hát thành phố ở quận 1, thì có thể thấy đơn vị này đang sở hữu khối tài sản nghìn tỷ. Tuy nhiên, những mảnh đất vàng này lại không nằm trong danh mục định giá để CPH, vì theo quy định đây là đất thuê của Nhà nước nên không tính giá trị đất. Bên cạnh đó, VFS còn có 325 sản xuất trong 60 năm cũng không được định giá.

Thương hiệu đâu chỉ là những con số.

Từ Nghị định 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 về việc bán và giao DN 100% vốn Nhà nước cho đến Nghị định 59/2011/NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN đều đã xác định giá trị thương hiệu là một trong những lợi thế kinh doanh. Tuy nhiên theo chuẩn mực kế toán Viêt Nam số 04 thì nhãn hiệu hàng hóa lại được coi là tài sản cố định vô hình. Chính vì vậy mà đến nay, các doanh nghiệp và nhất là DN tư nhân ở nước ta vẫn không chú trọng vào xác định giá trị thương hiệu – Ông Đặng Quyết Tiến, Phó Cục trưởng Cục tài chính doanh nghiệp nói.

Cụ thể trong trường hợp của VFS, giá trị thương hiệu của VFS không thể tính theo thời giá như mớ rau, con cá ngoài chợ. Nó phải được xem như một tài sản vừa có tính “vật thể” vừa có tính “phi vật thể” ở giá trị thời gian và hình ảnh lưu giữ. Rồi nhân sự của VFS, từ các nhân viên kỹ thuật có trình độ cao, các nghệ sĩ diễn xuất, quay phim, đạo diễn, biên kịch, họa sĩ… có đẳng cấp và được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSND, NSƯT… cũng là tài sản có giá trị “phi vật thể” cao, cũng phải được tính vào giá trị “thương hiệu” của VFS. Tính giá trị của VFS mà chỉ tính “vật thể”, những gì có thể cân – đo – đong – đếm được là một sự khiếm khuyết, là một cách tính “ăn gian” giá trị của hãng. Bởi không thể không tính “thương hiệu” là giá trị “phi vật thể” với những giá trị nhiều khi còn cao hơn cả giá trị “vật thể”. Do đó, nếu khẳng định VFS có giá trị thương hiệu bằng 0 sẽ là sự phủ nhận toàn bộ những gì bao thế hệ nghệ sĩ xây dựng trong suốt hơn 60 năm qua.

Sự bất thường khiến dư luận đặt dấu hỏi và những lo ngại trong sử dụng đất vàng.

Cổ phần hóa là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước. Việc cổ phần hóa VFS là một tất yếu theo lộ trình đã định. Nhưng việc VFS “rơi” vào tay một ông chủ xa lạ với ngành điện ảnh – nhà đầu tư chiến lược, Tổng Công ty Vận tải thủy (Vivaso) là chuyện “lạ”. Khi Vivaso chỉ phải bỏ 32,5 tỉ đồng đã có thể nắm giữ 65% cổ phần trong Hãng.

Việc cổ phần hóa còn nhiều vấn đề chưa minh bạchtrong quá trình định giá, cụ thể:

+ Thời gian mua bán diễn ra nhanh chóng;

+ Đăng tin tìm cổ đông chiến lược 3 kỳ trên một tờ báo duy nhất là Kinh tế và Đô thị Hà Nội với khổ chữ bé đến mức gần như không thể đọc nổi; việc lựa chọn chỉ chốt lại sau 10 ngày cũng hạn chế việc tìm ứng viên.

+ Việc rà soát lại toàn bộ quá trình cổ phần hóa theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cũng cho thấy sự thiếu minh bạch, bởi nó diễn ra chóng vánh, do chính bộ máy cũ – vừa đá bóng vừa thổi còi thực hiện và không chỉ ra một sai sót nào.

Tại sao lại như vậy? Băn khoăn này vẫn còn chờ câu chả lời từ cơ quan chức năng có liên quan. Ấy vậy mới dẫn tới “bi hài”: Biểu tượng của ngành điện ảnh nằm trong tay một đơn vị chuyên về lái tàu, kinh doanh cảng sông, nên sau này nếu có việc thủy thủ …đóng phim, nghệ sĩ của hãng phim truyện Việt Nam sẽ đóng phim hay đi lái tàu và VFS, Vivaso sẽ cùng nhau triển khai các dự án BĐS hoành tráng thì cũng đừng ngạc nhiên.

Bên cạnh đó là những lo ngại về có chăng VIVASO sẽ chuyển đổi mục đích đất vàng. Nghi ngờ này không phải là không có căn cứ, khi mà cả hai cùng gặp tình hình tài chính khó khăn thì những khu đất vàng mà VFS đang quản lý và sử dụng là lối thoát trong mơ của hai đơn vị này, cũng như với số tiền bỏ ra, VIVASO hoàn toàn có thể thành lập mới một doanh nghiệp điện ảnh và có thể thuê các máy móc, nghệ sĩ để sản xuất phim như các hãng phim tư nhân đã và đang làm. Kịch bản “đường vòng nhưng tới đích nhanh” không phải không có cơ sở, khi trong đợt IPO của VFS vừa rồi, Vaviso một mình một sân khấu. Bởi nếu là một đơn vị có tiềm lực tài chính và thương hiệu mạnh hơn, hẳn trách nhiệm gắn với VFS sẽ phải cao hơn rất nhiều, số tiền đầu tư cho phim ảnh cũng sẽ không phải nhỏ trong khi đó “đích” đến của câu chuyện này lại những khu đất vàng của VFS. Và khi các dự án BĐS được triển khai, lúc đó không chỉ có lãnh đạo VFS, Vivaso vui mừng mà chính những nghệ sĩ, diễn viên của VFS với tâm lý hoang mang trong thời điểm hiện tại cũng sẽ được hưởng những niềm vui, bất ngờ nho nhỏ. Nhưng người hưởng lợi lớn nhất từ thương vụ này chưa hẳn đã là người trong cuộc hiện nay. Nhưng trước mắt, ít nhất là trong 5 năm tới, Công ty CP đầu tư và phát triển phim truyện Việt Nam sẽ không vi phạm cam kết để tránh bị xử lý theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011, thế nhưng, sau khoảng thời gian ngắn ngủi 5 năm của cam kết và giám sát thì sao?. Có ai chắc 90% doanh thu của Công ty CP đầu tư và phát triển phim truyện Việt Nam còn đến từ phim?. Hay là đến từ thu nhập từ nhà hàng, khách sạn hay cho thuê… ?. Lúc đó, có ai nỡ trách phạt doanh nghiệp kiếm tiền từ thu nhập khác để nuôi phim?

Tương lai thuộc về ông chủ mới, chưa biết liệu họ có vực dậy “thương hiệu” này không, rất khó để đoán định hay hứa hẹn gì. Bởi có tiền cũng không phải là giải pháp để “thương hiệu” tồn tại, định giá trị của mình một khi sản xuất phim điện ảnh không phải là khơi luồng lạch cho tàu thuyền đi trên sông mà còn rất nhiều vấn đề khác chi phối, trong đó có cả tâm – tầm của ông chủ mới với điện ảnh VN nói chung, với hãng phim Cty cổ phần Đầu tư và Phát triển Phim truyện VN nói riêng.

CTV Thành Nam

Thích và chia sẻ bài này trên:
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@trandaiquang.net