Chủ đề

(Bạn đọc) - Theo công bố mới đây, trong số gần 11.000 Giáo sư (GS), Phó Giáo sư (PGS), chỉ có khoảng 4.440 GS, PGS đang làm công tác giảng dạy (chiếm hơn 40%). Số lượng tiến sĩ (TS) làm công tác giảng dạy cũng chiếm chưa đến 50% . Tức là, phải có đến 50% GS, TS tập trung ở khu vực quản lý, hành chính nhà nước.

h1274

Việc này đem lại sự phản ứng lớn từ dư luận nói chung và giới làm khoa học, giảng dạy nói riêng. Bởi, nó liên quan đến nhiều vấn đề, đặc biệt là cơ chế, chính sách.

Có “hành lang pháp lý” bảo hộ?

20160421130706-tien-siLâu nay ai cũng biết học càng cao thì càng dễ. Chuyện chạy bằng cấp, học giả nhưng bằng thật, học một đàng làm một nẻo, bằng cấp chỉ để thăng tiến chức vụ… Cái sự học đó đều có lý riêng của nó cả.

Chẳng phải dư luận từng “than thở” khi thành phố Hà Nội công bố “chiến lược cán bộ công chức” với mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu 100% cán bộ khối chính quyền diện Thành ủy quản lý có trình độ tiến sĩ? Theo đó, 100% cán bộ diện UBND Thành phố quản lý có trình độ trên đại học, trong đó một nửa cần đạt trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn có trình độ đại học, trong đó 50% trên đại học.

Nó cho thấy, chính các cơ quan quản lý, các tổ chức hành chính cũng chạy theo chỉ tiêu, số lượng để lấy thành tích, để mở rộng hoạt động, mà muốn mở rộng thì phải có nhân lực, có kinh phí… Đây là lý do nhiều cơ quan, địa phương đặt ra mục tiêu “sĩ hóa” 100% công chức.

Chủ trương, mục tiêu này không chỉ xuất hiện chính thức ở UBND TP Hà Nội, mà dường như các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương ở mọi vùng miền đều có “hiện tượng” ưu tiên bằng cấp, đều bị ảnh hưởng bởi nhận thức “sư”, “sĩ” trong quản lý nhà nước.

PGS.TS Ngô Thành Can – Phó khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự, Học viện Hành chính phân tích: “Đầu tiên phải nhìn từ chủ trương tuyển dụng cán bộ, viên chức hiện nay đang đặt quá nặng vấn đề về bằng cấp. Dù không có quy định chính thức bằng văn bản nhưng dễ thấy những hồ sơ lý lịch có ghi bằng cấp cao hơn thường được ưu tiên hơn trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức”.

Vô hình chung, chính cơ chế đã tự tạo hành lang pháp lý, thừa nhận bằng cấp là một lợi thế trong công tác tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những cán bộ, công chức có bằng cấp cao hơn thì sẽ muốn thành GS, TS.

Khoa học quản lý không nhất thiết phải GS, TS

Trong hành chính công vụ không phải cứ GS, TS là tinh thông

Trong hành chính công vụ không phải cứ GS, TS là tinh thông

Nếu như trước đây, người ta chỉ biết học hàm GS, học vị TS chỉ để dành cho những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu. Thì bây giờ lại đang có khá nhiều trường hợp không học, không dạy ngày nào cũng được phong hàm GS, TS.

Hơn nữa, nếu như ở Việt Nam chỉ cần 3-4 năm là lấy được tấm bằng TS “dễ như chơi”. Thì cũng với loại hình đào tạo TS này, có quốc gia người học phải từ 5-7 năm, hay như Mỹ, người học phải mất đến 10 năm mới có thể tốt nghiệp được.

Thế mới có chuyện cán bộ cơ quan hành chính nhà nước thi nhau đi học cao học, thi nhau đi làm cái gọi là nghiên cứu sinh để lấy bằng TS. Mới có chuyện một bộ phận quan chức hiện tại, hay con cháu quan chức người nào cũng đua nhau đi học nước ngoài, thậm chí mua bằng TS “rởm” về để leo lên đỉnh cao cầm quyền, dù năng lực là con số 0.

Trong khi thực tế chứng minh điều ngược lại là làm quản lý nhà nước là những lĩnh vực không cần bằng GS, TS. Đến một đất nước văn minh, hiện đại như Mỹ nhưng các đời tổng thống chỉ có ông Wilson là trường hợp duy nhất có bằng TS. Tuy nhiên ông ấy không được đánh giá cao.

Trước thực trạng không mấy vui về nền hành chính công vụ nước nhà, có một nhà nghiên cứu đã lý giải thế này: “Con số hơn 50 % người làm công tác quản lý nhà nước là hiện tượng lạ thường và chỉ có ở Việt Nam. Trong khi đó, cán bộ quản lý nhà nước là những lĩnh vực không nhất thiết phải cần tới bằng TS. Những người làm chuyên môn giỏi mà đi vào quản lý sẽ bị yếu vì khó tập trung. Họ được đào tạo để làm chuyên môn, không phải là người học khoa học quản lý và có kinh nghiệm quản lý”.

Việc này dẫn đến một hệ lụy không nhỏ đó là những người có năng lực thực sự học ở nước ngoài không bao giờ về nước để cống hiến mặc dù họ rất muốn về, hoặc ngay chính trong nước, có không ít người giỏi thật sự thì thất nghiệp, không có việc làm, không có cơ hội cống hiến cho nền công vụ.

Đã vậy, lại trái khoáy ở chỗ, mặc dù nhiều GS, TS làm quản lý, nhưng chất lượng cán bộ, công chức vẫn bị người dân phàn nàn, không hài lòng với thái độ phục vụ là điều bất cập.

Sự bất cập này phản ánh bức tranh chung của ngành giáo dục lẫn nền công vụ có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ lẫn nhau, theo cái kiểu “có cầu ắt có cung”. Đó là chúng ta đang xây dựng đội ngũ trí thức không vì mục tiêu sáng tạo, nghiên cứu khoa học, mà phục vụ cho nhu cầu chính trị.

Cũng do sự bất cập này mới có những chuyện như: Nơi cần hàm lượng khoa học và kỹ thuật cao đều do nước ngoài thi công; Người nông dân phải “bất đắc dĩ” chân đất tay bùn làm khoa học; Ngành công nghiệp trong nước vẫn chưa thể sản xuất nổi con ốc vít…

Đấy là chưa bàn đến chuyện tinh giản biên chế. Vì nếu căn cứ theo tiêu chuẩn cứng về trình độ đại học, lý luận chính trị thì cũng rất khó cho việc tinh giản biên chế đội ngũ cán bộ mang danh “sư”, “sĩ” này.

Như vậy, chuyện đội ngũ cán bộ công chức có trình độ GS, TS làm công tác quản lý hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn âu cũng xuất phát từ tư tưởng “sĩ” của người Việt trong mọi thành phần, tầng lớp, tổ chức, cơ quan. Trong khi lĩnh vực khoa học quản lý không phải anh “sư”, chị “sĩ” nào cũng nắm được, cũng tinh thông nghiệp vụ.

Có nghĩa, nền hành chính, công vụ không nhất thiết phải toàn “sư”, “sĩ”. Và đã đến lúc ngành nội vụ nên xem xét lại một cách nghiêm túc tiêu chí này trong tuyển dụng, đề bạt những người được gọi là “công bộc của dân”?!

CTV Sông Trà

Thích và chia sẻ bài này trên:
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@trandaiquang.net