Chủ đề

(Bạn đọc) - Trong công cuộc xây dựng, kiến thiết và bảo vệ đất nước, Đảng, Nhà nước, luôn đề ra những sách lược, kế hoạch để định hướng các vấn đề quan trọng. Trong những định hướng đó luôn bao hàm các nội dung bí mật và nếu để lộ sẽ gây ra những khó khăn và hậu quả rất nghiêm trọng. Bởi vậy việc ban hành luật để bảo vệ bí mật nhà nước là cấp thiết, mang tính thời sự. Tuy nhiên, không bởi vì thế mà lạm dụng nó để một bộ phận cán bộ làm phương tiện để trốn tránh yêu cầu minh bạch của pháp luật. 

Sự cần thiết

Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 28/12/2000 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện các quy định của Pháp lệnh đến nay, đã bộc lộ những hạn chế, bất cập với yêu cầu thực tiễn đặt ra, có thể chỉ ra những hạn chế như sau:

Đầu tiên là khái niệm bí mật nhà nước quy định trong Pháp lệnh năm 2000 còn chung chung; quy định một cách định tính dẫn đến việc xác định phạm vi bí mật nhà nước cụ thể theo từng độ mật quá rộng, gây khó khăn cho công tác quản lý, sử dụng và bảo vệ bí mật nhà nước.

Thứ hai, trong công tác thực tiễn đấu tranh của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn do một số nội dung của công tác bảo vệ bí mật nhà nước đã được quy định trong Pháp lệnh năm 2000, nhưng chưa cụ thể, đầy đủ, có thể ví dụ như: Trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ bí mật nhà nước; in, sao, chụp, truyền nhận, tiêu hủy bí mật nhà nước.

Thứ ba, Pháp lệnh năm 2000 chưa quy định về thay đổi độ mật bí mật nhà nước (giải mật, giảm mật, tăng mật). Thông tư số 33/2015/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn một số điều của Nghị định số 33/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước (Nghị định số 33) có quy định về thay đổi độ mật, nhưng chưa quy định về thời hạn giải mật bí mật nhà nước, chỉ giao thẩm quyền quyết định giải mật cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương nên áp dụng vào thực tiễn chưa hiệu quả.

Thứ tư, Pháp lệnh năm 2000 chưa có quy định cụ thể về bảo vệ bí mật nhà nước trên lĩnh vực thông tin và truyền thông; sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, các vụ lộ thông tin có nội dung bí mật nhà nước trên Internet, báo chí, xuất bản, hội thảo quốc tế… có xu hướng gia tăng, gây tổn hại an ninh quốc gia và thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ năm, từ khi Pháp lệnh năm 2000 có hiệu lực thi hành đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ký kết hiệp định về bảo vệ tin mật với Chính phủ của năm quốc gia (Nga, Ucraina, Bê-la-rút, Ba Lan, Bulgary). Tuy nhiên, Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về hợp tác quốc tế trong bảo vệ và trao đổi thông tin mật, nên chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện thống nhất.

Thứ sáu, tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước thời gian qua diễn biến phức tạp. Theo thống kê của Bộ Công an, từ năm 2001 đến nay đã phát hiện hơn 844 vụ lộ, lọt bí mật nhà nước; trong đó, nhiều tài liệu thuộc danh mục Tuyệt mật, Tối mật liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước; chủ trương giải quyết các tranh chấp về biên giới, biển đảo. Một trong những nguyên nhân của tình hình trên, là do hệ thống pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước chưa được đồng bộ, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe.

Thứ bảy, trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, cụ thể tại điều 14 thì quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; việc hạn chế tiếp cận các thông tin liên quan đến bí mật nhà nước sẽ phải được quy định bằng hình thức Luật. Ngoài ra, việc ban hành dự án Luật thay thế Pháp lệnh hiện hành để đảm bảo đồng bộ và tương thích với Luật An toàn thông tin mạng, Luật tiếp cận thông tin.

Cuối cùng đó là hiện nay trong pháp lệnh và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác chưa có quy định về chức năng, nhiệm vụ, bộ máy, biên chế làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước ở các bộ, ban, ngành, địa phương, dẫn đến việc triển khai không đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả bảo vệ bí mật nhà nước không cao.

Chính bởi vậy việc ban hành Luật bảo vệ bí mật nhà nước trong thời gian sớm nhất có thể là việc làm cần thiết và hợp lý.

Việc ban hành luật để bảo vệ bí mật nhà nước là cấp thiết, mang tính thời sự.

Việc ban hành luật để bảo vệ bí mật nhà nước là cấp thiết, mang tính thời sự.

Không để xảy ra lỗ hổng để bị lạm dụng 

Mặc dù hiện nay, bộ phận soạn thảo đang làm việc để đưa ra các dự thảo trình quốc hội, một số đã được công bố, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp, trong đó có nhiều ý kiến về việc cần phải có lộ trình xây dựng phù hợp, và cũng cần phải cân nhắc trong vấn đề tiếp cận thông tin – sự cần biết của người dân.

Tại khoản 1 điều 3 Luật tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Nhìn nhận một cách khách quan thì thông tin, gồm cả thông tin mật chính là tài sản quốc gia.

Hiến pháp Việt Nam quy định công dân có quyền tiếp cận thông tin, có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của đất nước. Trên thực tế các thông tin được xem là bí mật nhà nước phải dựa vào các hoạt động đánh giá mức độ thông tin của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, và trong các cơ quan đó bao gồm cán bộ, công chức. Từ việc quy định và ban hành Danh mục bí mật nhà nước, quá trình sử dụng, sao chép thông tin bảo mật, cho đến việc giải mật. Do đó, cần phải phân định thông tin như thế nào là mật một cách chặt chẽ, sát hợp bởi thông tin càng bị mật hóa càng nhiều, thì quyền tiếp cận thông tin càng ít. Để làm được việc đó cần có cơ chế khoa học, giám sát, xử lý hay ngăn chặn xu hướng mật hóa tràn lan tránh gây ra những vấn đề bất cập.

Đánh giá trên bình diện cao hơn, nếu cái gì cũng mật hóa và xu hướng mật hóa càng tăng thì quyền tự do, dân chủ càng mang tính hình thức. Chính vì vậy, bảo vệ bí mật nhà nước phải bảo đảm không tách rời quyền và lợi ích của công dân. Ngoại trừ những bí mật mang tính quốc gia, mà việc bị tiết lộ gây tổn hại cho an ninh quốc phòng, thì trong các lĩnh vực khác, cần xem xét, cân nhắc có nên mật hóa thông tin hay không.

Theo dự thảo luật mới nhất được công bố để tham khảo ý kiến , có 9 nhóm nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước cần được bảo vệ, bao quát hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên theo người viết đánh giá, nội hàm về thông tin mật nhà nước cần được bảo vệ theo dự thảo vẫn đang khá rộng, chưa loại bỏ được dứt điểm tính chung chung, nên có khả năng dẫn đến việc người có thẩm quyền có thể hiểu và ban hành danh mục bí mật nhà nước theo hướng có lợi cho mình, hoặc đặt lợi ích của đơn vị mình lên trên cả lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong khi đó, dự thảo ghi nhận bí mật nhà nước là thứ “nếu bị lộ, mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc” – tức là đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

Bên cạnh đó, vẫn còn một số điểm cần chú ý, chẳng hạn như trong khoản 1 điều 23 của dự thảo:
“1. Thẩm quyền thay đổi độ mật:
a) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cấp tổng cục (và tương đương), tập đoàn (và tương đương) trực thuộc cơ quan, tổ chức ở trung ương quyết định;
b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện (và tương đương) ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.”

Ta có thể thấy rằng ở đây thẩm quyền thay đổi độ mật đã có sự cơ sở hóa dần, tức là các thủ trưởng, phó thủ trưởng các ban ngành của cấp huyện và tương đương đã có được thẩm quyền thay đổi tính chất của bí mật nhà nước. Trong trường hợp xấu ví dụ như xảy ra các bê bối, tiêu cực, tham nhũng, các cán bộ ở cấp đó có thể có quyền đưa các tài liệu số liệu liên quan nâng từ tài liệu thường lên tài liệu mật, gây khó trong công tác điều tra, xử lý sai phạm. Hoặc trong trường hợp xảy ra hành vi để mất tài liệu mật, thông tin mật, nhằm để giảm nhẹ, chạy tội cho các đối tượng thì các cán bộ ấy hoàn toàn có quyền “nhìn xa”, hạ mức độ bảo mật xuống, như vậy đây cũng là một điều đáng lưu tâm mà các nhà làm luật phải xem xét rất kỹ lưỡng.

Cần phải quy định rõ ràng, chi tiết hơn nữa trong các điều luật nhằm hạn chế việc sau khi luật ban ra, một loạt các rừng nghị định hướng dẫn cũng đi kèm với nó, tạo điều kiện cho việc “sáng tạo” luật, bỏ lọt tội phạm. Đơn cử như các vụ việc Bộ Nội vụ làm thất lạc hồ sơ bổ nhiệm Trịnh Xuân Thanh hay cán bộ ở Hà Nội để mất hồ sơ sai phạm của đại gia điếu cày – ông chủ Mường Thanh.

Tựu chung lại, việc ban hành một bộ luật liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước là cần thiết. Tuy nhiên sự cần thiết đó cần phải đặt trong bối cảnh luật sẽ góp phần có những tác động tích cực đến an ninh quốc gia, vận mệnh dân tộc đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tạo thông thoáng cho nền kinh tế – xã hội, hạn chế sự lạm quyền, tùy tiện và sự mật hóa không hợp lý.

CTV Quảng An

Thích và chia sẻ bài này trên:
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@trandaiquang.net