Chủ đề

(Xã hội) - Có thể nói người lao động là lực lượng chủ yếu và cốt lõi để tạo ra các giá trị vật chất, của cải cho xã hội, cùng với sự phát triển của kinh tế và xã hội ngày nay đời sống của người lao động tại nước ta ngày càng được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh cho người lao động vẫn còn nhiều bất cập.

Những con số giật mình

Vừa qua, Hội đồng quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động đã tổ chức chương trình đối thoại định kỳ năm 2018. Đây là một trong những hoạt động thiết thực hưởng ứng Ngày thế giới về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc (28/04) và chuẩn bị cho Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động lần thứ ba vào tháng 5 năm nay. Trong chương trình, có nhiều báo cáo, số liệu đã được đưa ra, trong đó đáng chú ý là thống kê của Cục An toàn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về tai nạn lao động, theo đó số người thiệt mạng do tai nạn lao động (TNLĐ) trong năm qua tăng. Năm 2017, toàn quốc xảy ra 8.956 vụ TNLĐ làm 9.173 người bị nạn, trong đó có 928 người tử vong. Số nạn nhân bị TNLĐ thuộc cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực lao động phi chính thức. Cụ thể, số vụ TNLĐ chết người 898 vụ, 101 vụ có số người bị nạn từ hai người trở lên. Bên cạnh đó, số người bị thương nặng: 1.915 người, có hơn 2.700 nạn nhân là lao động nữ, lao động trẻ có tỷ lệ tai nạn lao động cao hơn 40% so với nhóm lao động lớn tuổi hơn.

Cần tăng cường, chú trọng hơn nữa công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh để bảo vệ quyền lợi cho người lao động

Đó là những con số khiến chúng ta không khỏi giật mình, nếu soi vào số liệu thống kê Cục An toàn lao động từ năm 2014 đến nay chúng ta có thể thấy, số vụ TNLĐ và số người bị nạn có xu hướng cao hơn năm trước, thậm chí chênh lệch lên đến đến hàng nghìn cả về số vụ và số người. Quả thật đó là một dấu hiệu đáng lo ngại đối với vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh trong lao động. Hiện nay khi mà nền kinh tế đất nước đang phát triển mạnh mẽ, khoa học kĩ thuật tiến bộ tiến bộ từng ngày, sự quan tâm của Nhà nước đối với người lao động ngày một sát sao hơn nhưng họ vẫn đang phải đối mặt với ngày càng nhiều những rủi ro thì rõ ràng có nhiều vấn đề cần phải giải quyết để chấm dứt tình trạng trên.

Những tồn tại cần khắc phục

Trong vòng hơn 10 năm qua, Đảng, Chính phủ, Quốc hội ngày càng chú trọng, đề cao và cực kỳ quan tâm đến quyền lợi, sự an toàn của người lao động . Điều đó được thể hiện bằng việc chúng ta đã có những văn bản quy phạm pháp luật, cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ người lao động và tăng cường công tác đảm bảo an toàn, cụ thể đó là Bộ luật lao động, Luật an toàn vệ sinh lao động cùng với nhiều nghị định có liên quan. Rõ ràng về mặt chủ trương và pháp lý đã rất cụ thể và rõ ràng, vấn để ở đây chính là việc cơ quan quản lý, người lao động và người sử dụng lao động thực hiện các chủ trương, quy định ấy như thế nào?

Trước hết với các cơ quan quản lý lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động, có thể nói thời gian qua mặc dù đã triển khai, thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp, xí nghiệp trong vấn đề vệ sinh lao động và an toàn lao động nhưng nhìn chung Sở LĐ – TB&XH của các tỉnh, thành phố vẫn đang tổ chức quản lý một cách khá hình thức và mang nặng tính hành chính. Ngoài các đợt kiểm tra định kì 6 tháng hay 1 năm thì rất ít các địa phương thực hiện kiểm tra đột xuất, bên cạnh đó nhiều nơi còn làm qua loa, hình thức khi chỉ đánh giá điều kiện an toàn lao động thông qua các báo cáo của doanh nghiệp, điều này đã tạo ra kẽ hở và chỉ đến khi tai nạn xảy ra, người lao động chịu thiệt thòi thì cơ quan quản lý mới biết lâu nay doanh nghiệp vẫn an toàn…trên giấy tờ.

Tiếp đến đối với các doanh nghiệp và người sử dụng lao động, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang cố tình lờ đi hai thứ rất quan trọng, đó là bảo hiểm lao động và điều kiện an toàn trực tiếp cho công việc cụ thể của người lao động. Vì lợi nhuận và sự cẩu thả mà một số công ty đã cố tình không thực hiện các chính sách về bảo hiểm, bên cạnh đó nhiều nơi còn có tình trạng “ăn bớt”, rút ngắn thời gian huấn luyện an toàn lao động, có nơi chỉ từ 30 phút đến một tiếng, tranh thủ thời gian nghỉ trưa của công nhân, chỉ giới thiệu thông tin, chiếu clip qua loa, làm để đối phó, có tư liệu báo cáo với các cơ quan quản lý. Thậm chí trong quá trình thanh tra, kiểm tra hầu hết các doanh nghiệp đều nghiêm túc triển khai quy trình về huấn luyện ATVSLĐ, các hồ sơ đều rất đẹp nhưng truy ra ra mới biết hầu hết quy trình về huấn luyện đều được các doanh nghiệp thực hiện không đúng như báo cáo. Không những vậy, nhiều doanh nghiệp còn mời giảng viên không có thực tế, không am hiểu, không biết nhiều về quy trình hoạt động của máy móc, công việc chuyên môn, cuối cùng sau buổi huấn luyện, dù giảng nhiều, nói nhiều nhưng các công nhân vẫn không đọng lại được kiến thức nào.

Cuối cùng, đối tượng quan trọng nhất – người lao động. Có thể nói ngoại trừ thành phần lao động trí thức thì phần lớn còn lại đều chưa ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của vệ sinh, an toàn lao động. Mặc dù là chủ thể trực tiếp thực hiện công việc nhưng họ vẫn còn mang tư tưởng qua loa, xuề xòa, không muốn nghĩ đến các rủi ro, thậm chí nhiều người còn chưa nhận thức được việc đảm bảo an toàn ấy chính là một trong những quyền lợi thiết thân của mình. Sự thờ ơ của chính người lao động đối với bản thân đã khiến cho sự cẩu thả, buông lỏng vô hình trung đã mang tính dây chuyền và tai nạn xảy ra là điều có thể dự báo trước.

Như vậy rõ ràng có ba vấn đề cần phải giải quyết để chấm dứt tình trạng tai nạn và rủi ro lao động ngày càng tăng cao trong thời gian vừa qua.

Thứ nhất, các cơ quan quản lý trực tiếp mà cụ thể ở đây là Sở LĐ-TB&XH các địa phương cần phải thắt chặt, quyết liệt trong công tác quản lý đảm bảo an toàn chất lượng lao động của các doanh nghiệp, công ty, cần đi vào thực chất chứ không nên tiếp tục quản lý hình thức như thời gian vừa rồi, chúng ta có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, cắt bỏ các giấy phép con và cách chính sách về thuế khác nhưng tuyệt đối không được buông lỏng trong vấn đề này, không để người lao động bị thiệt thòi. Bên cạnh đó cần có biện pháp quản lý chặt chặt chẽ hơn với khu vực lao động phi chính thức, không có quan hệ lao động.

Thứ hai, tổ chức công đoàn trong các công ty, các xí nghiệp cần phải phát huy tốt vai trò của mình, với vai trò là người đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao động, công đoàn phải nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của an toàn, vệ sinh lao động, thay mặt người lao động trực tiếp kiến nghị với người sử dụng lao động trang bị các thiết bị đảm bảo an toàn và thực hiện đầy đủ các bảo hiểm rủi ro như đã cam kết trong hợp đồng. Rõ ràng trong việc này, công đoàn cần phải chủ động bởi đa số các doanh nghiệp trừ khi bị kiểm tra, xử lí còn lại đều không có tinh thần tự giác trong vấn đề này.

Thứ ba, bởi tỉ lệ lao động trẻ ở độ tuổi dưới 25 gặp phải tai nạn lao động là cao nhất, do vậy trong công tác đào tạo nghề hiện nay ngoài trang bị các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp thì các cơ sở đào tạo phải đưa vào nội dung giảng dạy các kiến thức về an toàn vệ sinh lao động, nhằm trang bị từ sớm cho lực lượng lao động các kĩ năng cần thiết, tránh sự thụ động. Những kĩ năng cơ bản này cần phải được đào tạo ngay từ trong trường nghề, không thể để đến khi tiếp xuc với công việc thực tiễn mới tiến hành ‘rút kinh nghiệm’.

Chúng ta biết rằng lực lượng lao động của Việt Nam hiện nay rất đông, dồi dào, có nhiều phẩm chất tốt tuy vậy không có nghĩa vì ‘cậy’ vào sự dồi dào ấy mà xem thường, bỏ qua các điều kiện đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho họ. Cần phải luôn xác định dù nền kinh tế có phát triển đến đâu, xã hội có phát triển đến trình độ nào nhưng người lao động – lực lượng chính tạo nên thành quả ấy – vẫn chưa được đảm bảo những quyền lợi cơ bản thì cũng không được coi mà một nền kinh tế bền vững, một xã hội tiến bộ.

(Theo Bút Danh)

Thích và chia sẻ bài này trên:
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@trandaiquang.net